erpkaizen

Cách đo giá trị

Nhật ký công trường sinh từ một kế hoạch: 30 trang ghi «Nắng», tháng đó mưa 18 ngày

Có phép đo Bài của 30/10/2026 Đọc khoảng 10 phút
Ba việc trên lịch nối nhau bằng mũi tên: bê tông móng, xây móng, đắp đất. Việc thứ ba bắt đầu sớm hơn việc trước cho phép nên bị đánh dấu. Một mũi tên dẫn sang trang nhật ký đã điền sẵn: thời tiết mưa nhỏ, công việc trong ngày. Không có số liệu thật. Kế hoạch Bê tông móng Xây móng Đắp đất ⚠ Nhật ký 15/09 Sáng: Mưa nhỏ CBKT 2 · CN 12 · Xây móng Một kế hoạch, nối với khối lượng nhật ký, biên bản, thanh toán sinh từ đó
Một kế hoạch có trình tự, nối với dòng khối lượng: việc bắt đầu sớm bị đánh dấu, trang nhật ký tự điền việc trong ngày và thời tiết thật.

Trên một tệp quản lý thi công thật, 132/330 dòng lịch là bản chép phụ lục giá và nhật ký ngày nào cũng «Nắng». Khi nhật ký, biên bản nghiệm thu và bảng khối lượng thanh toán sinh từ một kế hoạch nối với khối lượng, một kỹ sư được trả lại bao nhiêu giờ mỗi tháng.

Một kỹ sư hiện trường tốn bao nhiêu giờ mỗi tháng để chép lại kế hoạch thành giấy tờ?

Chỉ cần số công trình, số việc trong lịch, số tháng thi công và chi phí một giờ. Số trang, số biên bản, số đợt thanh toán suy ra từ đó. Sửa được hết.

Mà một kỹ sư lo hồ sơ
Các dòng trong danh sách việc / tiến độ
Từ khởi công tới nghiệm thu hoàn thành
Lương + bảo hiểm, chia theo giờ

Suy ra từ bốn con số trên (mỗi tháng)

Trang nhật ký–
Biên bản nghiệm thu–
Bảng khối lượng thanh toán–
Giấy tờ bị trả về sửa–
Giả định — bấm để xem và sửa từng con số

Đếm

Nhật ký

Biên bản nghiệm thu

Bảng khối lượng thanh toán

Giấy tờ bị trả về

Thiết lập

Giờ mỗi tháng cho từng loại giấy tờ Trái: hôm nay · phải: khi sinh từ một kế hoạch · rê chuột lên đường để xem số
Giờ mỗi tháng cho từng loại giấy tờ

A. Nhật ký–
B. Biên bản nghiệm thu–
C. Bảng khối lượng thanh toán–
D. Giấy tờ bị trả về–
E. Giờ thiết lập, chia theo tháng–
Giờ được trả lại mỗi tháng, tính ra tiền–

Đây là ước tính, không phải cam kết. Khoản D mềm nhất — đặt hai phần bị trả về bằng nhau rồi đọc lại. Đặt phút «khi máy điền sẵn» bằng phút hôm nay: mọi khoản về 0, chỉ còn giờ thiết lập. Mô hình trung thực phải làm được điều đó.

Mở tệp Excel quản lý thi công của một kỹ sư hiện trường, ở một công trình tu bổ vốn nhà nước, sang sheet nhật ký. Trang nào cũng ghi thời tiết «Nắng», hai cán bộ kỹ thuật, chín công nhân — ngày nào cũng y như ngày nào. Đối chiếu với số đo lưu trữ của trạm thời tiết ở đúng vùng đó, tháng 9 có 18 ngày mưa trong giờ làm việc, 9 ngày mưa từ 2,5 mm trở lên.

Không ai cố tình ghi sai. Nhật ký được làm bằng cách sao trang hôm qua, đổi ngày, sửa vài dòng việc, rồi in từng trang. Ở sheet bên cạnh, 132 trong 330 dòng của danh sách công việc là bản chép gần nguyên văn (giống từ 95%) một dòng của phụ lục giá hợp đồng; 277 dòng giống từ 60%. Cùng một công việc được gõ ít nhất hai lần, và hai bản không nối với nhau: sửa khối lượng ở phụ lục thì lịch không biết, và biên bản nghiệm thu lại được gõ thêm lần thứ ba.

Bài này hỏi: nếu nhật ký, biên bản nghiệm thu và bảng khối lượng thanh toán đều sinh ra từ một kế hoạch duy nhất, nối với phụ lục giá, thì một kỹ sư được trả lại bao nhiêu giờ mỗi tháng?

1. Thay đổi là gì

Kỹ sư nhập đúng tệp Excel đang dùng — phụ lục giá và danh sách công việc, cột nhận theo tên tiêu đề nên tệp mỗi công trình một khác vẫn đọc được. Sau đó:

  1. Mỗi dòng lịch có một mã riêng, nối với mã của dòng khối lượng. Máy gợi ý dòng phụ lục giống nhất cho từng công việc; kỹ sư xác nhận. Chưa xác nhận thì khối lượng chưa đi vào biên bản hay thanh toán.
  2. Có trình tự chuẩn giữa các việc. Đào móng trước bê tông lót, bê tông móng trước xây móng, bê tông kết cấu phải đủ tuổi trước khi nén mẫu. Việc nào bắt đầu sớm hơn việc trước cho phép thì bị đánh dấu ⚠ — máy chỉ đánh dấu, không tự dời. Trên tệp nói ở trên, khoảng một phần tư số việc được đánh dấu.
  3. Nhật ký tự điền: việc đang làm và biên bản nghiệm thu trong ngày lấy từ lịch, nhân lực lấy từ mặc định của công trình, thời tiết sáng/chiều lấy theo toạ độ công trình từ số đo thật — và đều sửa được. Ngày đã chốt thì nội dung đứng yên dù lịch đổi về sau.
  4. Biên bản nghiệm thu và bảng khối lượng hoàn thành in sẵn số biên bản, khối lượng, người ký; bảng thanh toán cộng từ những biên bản đã nghiệm thu trong kỳ.
Lịch nhật ký tháng 9: mỗi ô ngày ghi thời tiết, số việc đang làm và số biên bản nghiệm thu
Lịch nhật ký một tháng của một công trình mẫu: mỗi ngày đã có thời tiết thật theo toạ độ, số việc đang làm và số biên bản nghiệm thu, trước khi ai gõ chữ nào. Dữ liệu mẫu, không thuộc công trình thật nào.

Nội dung nhật ký thi công không có mẫu bắt buộc, nhưng phải có thời tiết, nhiệt độ, nhân công, thiết bị, công việc thi công và nghiệm thu hằng ngày (Nghị định 207/2026/NĐ-CP, Phụ lục IIa). Vì thế mẫu in là dữ liệu sửa được, không phải mã.

2. Nguồn thứ nhất: trang nhật ký

Giờ bớt/tháng = số công trình × ngày làm việc × (phút một trang hôm nay − phút khi máy điền sẵn) ÷ 60
Ví dụ Một kỹ sư lo hồ sơ cho 2 công trình, 26 ngày làm việc: 52 trang mỗi tháng. Hôm nay mỗi trang mất 20 phút (sao trang cũ, sửa việc, sửa ngày, in). Khi máy điền sẵn, việc còn lại là đọc, sửa chỗ sai và chốt: 3 phút. 52 × (20 − 3) ÷ 60 ≈ 14,7 giờ/tháng.

Cách đo. Bấm giờ một tuần nhật ký như đang làm, kể cả lúc in. Phút «sau» đo trên chính công cụ: thời điểm mở ngày và thời điểm chốt ngày đều được ghi lại.

Mức độ đáng tin: cao. Số trang đếm được, phút đo được trên một tuần.

3. Nguồn thứ hai: biên bản nghiệm thu

Giờ bớt/tháng = công trình × việc trong lịch × biên bản trên một việc ÷ số tháng thi công × (phút hôm nay − phút khi in sẵn) ÷ 60
Ví dụ Mỗi công trình 300 việc, thi công 10 tháng. Trên tệp thật, 288 biên bản cho 333 việc — khoảng 0,86 biên bản một việc. Hai công trình là khoảng 52 biên bản mỗi tháng. Gõ tay số biên bản, tên việc, ngày, khối lượng, thành phần ký: 25 phút. In sẵn rồi soát: 4 phút. 51,6 × (25 − 4) ÷ 60 ≈ 18,1 giờ/tháng.

Cách đo. Lấy danh mục biên bản tháng trước, đếm số biên bản và hỏi người lập mất bao lâu cho một tờ. Biên bản bị giám sát trả về vì sai số thì tính ở nguồn thứ tư, đừng tính hai lần.

Mức độ đáng tin: khá. Số biên bản đếm được; phút chênh nhiều giữa biên bản một dòng khối lượng và biên bản nhiều dòng.

4. Nguồn thứ ba: bảng khối lượng hoàn thành

Giờ bớt/tháng = công trình × đợt thanh toán mỗi tháng × (giờ một đợt hôm nay − giờ khi cộng từ biên bản)
Ví dụ Mỗi công trình một đợt mỗi tháng. Hôm nay lập bảng khối lượng hoàn thành của một đợt mất 6 giờ: lục biên bản, cộng tay, đối chiếu phụ lục. Khi bảng được cộng từ các biên bản đã nghiệm thu trong kỳ, việc còn lại là soát: 1 giờ. 2 × (6 − 1) = 10 giờ/tháng.

Cách đo. Lần lập hồ sơ thanh toán tới, ghi giờ bắt đầu và giờ nộp. Đợt sau làm trên công cụ, so cùng một loại đợt — đợt có nhiều hạng mục mới khác đợt chỉ có phần hoàn thiện.

Mức độ đáng tin: khá. Một đợt mỗi tháng là giả định; nhiều công trình vốn nhà nước thanh toán thưa hơn — sửa ô đó.

5. Nguồn thứ tư: giấy tờ bị trả về

Giờ bớt/tháng = (trang + biên bản + đợt) × (phần bị trả về hôm nay − phần bị trả về khi máy soát) × phút sửa một tờ ÷ 60
Ví dụ Khoảng 106 tờ mỗi tháng. Hôm nay 5% bị trả về vì ngày nghiệm thu trước ngày làm xong, khối lượng biên bản không khớp phụ lục, hay bê tông được nghiệm thu chất lượng khi chưa đủ tuổi; khi máy soát trình tự và khối lượng thì còn 1%. Mỗi tờ sửa và in lại mất 40 phút. 106 × (5% − 1%) × 40 ÷ 60 ≈ 2,8 giờ/tháng.

Cách đo. Đếm số tờ giám sát hoặc chủ đầu tư trả về trong ba tháng gần nhất, và lý do của từng tờ. Chỉ những lý do máy soát được (ngày, trình tự, khối lượng) mới được tính vào đây.

Mức độ đáng tin: thấp — khoản mềm nhất. Đặt hai phần bị trả về bằng nhau và bảng tính vẫn còn 42,0 giờ mỗi tháng.

6. Khoản phải trừ: thiết lập

Mỗi công trình cần nhập tệp, xác nhận các gợi ý nối khối lượng và trình tự, khai người ký và toạ độ: khoảng 4 giờ. Chia cho 10 tháng thi công, 2 công trình là 0,8 giờ mỗi tháng. Phần này không dùng AI nên không có chi phí gọi mô hình.

7. Cộng lại

NguồnGiờ/thángTiền/tháng (60.000 đ/giờ)
Nhật ký14,70,88 tr
Biên bản nghiệm thu18,11,08 tr
Bảng khối lượng hoàn thành10,00,60 tr
Giấy tờ bị trả về2,80,17 tr
Thiết lập−0,8−0,05 tr
Được trả lại44,82,69 tr

Khoảng 45 giờ mỗi tháng, gần 6 ngày công, cho một kỹ sư lo hai công trình. Hôm nay giấy tờ ngốn khoảng 54 giờ; máy làm thay được khoảng 84% số đó.

Đếm một lần. 45 giờ đó là tiền — 2,7 triệu mỗi tháng, 32 triệu một năm ở mức lương trong ví dụ — hoặc là sức để cùng một kỹ sư lo thêm một công trình. Không cộng cả hai. Với một nhà thầu nhỏ, giá trị thật thường nằm ở vế thứ hai, nhưng đó là quyết định của chính công ty, không phải của bảng tính.

8. ROI này đứng trên giả định nào

Kế hoạch phải được giữ đúng. Đó là giả định nằm dưới cả bốn nguồn. Nhật ký sinh từ lịch chỉ đúng khi lịch đúng; nếu công việc thực tế trôi khỏi lịch mà không ai cập nhật, máy sẽ điền sẵn những trang sai một cách rất gọn gàng. Vì thế nhật ký luôn là bản nháp cho tới khi kỹ sư chốt ngày — và chính bước chốt đó là chỗ con người còn phải làm.

Thời tiết lấy tự động là số đo của trạm, không phải của công trường. Mỗi ô lưới rộng vài kilômét; một trận mưa rào cục bộ có thể không ở trong số đo. Ô thời tiết sửa được và lần sửa của kỹ sư không bao giờ bị ghi đè.

Trình tự chuẩn là gợi ý, không phải luật. Có việc được làm gối đầu một cách hợp lý. Dấu ⚠ chỉ nói rằng việc đó bắt đầu sớm hơn trình tự cho phép; người quyết định vẫn là kỹ sư.

Bảng kế hoạch: mỗi việc có mã, ngày, việc trước và số dòng khối lượng đã nối; các việc bắt đầu sớm hơn trình tự có vạch đỏ và dấu ⚠
Kế hoạch của một công trình mẫu sau khi nhập tệp: mỗi việc có mã riêng, việc trước theo trình tự chuẩn và số dòng khối lượng đã nối (ô vàng là gợi ý chưa xác nhận). Vạch đỏ ở đầu dòng là việc bắt đầu sớm hơn trình tự cho phép. Dữ liệu mẫu, không thuộc công trình thật nào.

Liên kết khối lượng do máy gợi ý phải được xác nhận. Gợi ý theo độ giống của câu chữ; một dòng sai nối vào biên bản là một dòng sai được in đẹp. Chưa xác nhận thì nó không đi vào biên bản hay thanh toán.

9. Đo ở chính công ty bạn

  1. Lấy mốc. Một tuần: bấm giờ nhật ký, đếm biên bản và giờ lập chúng; giờ lập bảng khối lượng của đợt gần nhất; số tờ bị trả về trong ba tháng.
  2. Chạy một công trình trong một tháng. Ghi giờ thiết lập. Mỗi tuần ghi số ngày đã chốt, số liên kết khối lượng đã xác nhận, số việc bị ⚠ và bao nhiêu trong đó là gối đầu có chủ ý.
  3. So cùng loại việc. Tháng móng nhiều biên bản hơn tháng hoàn thiện; so tháng móng với tháng móng.

10. Điều đáng nhớ

Một công việc nên được gõ một lần. Khi phụ lục giá, lịch, nhật ký và biên bản là bốn bản gõ tay của cùng một sự việc, mỗi bản trông đều đúng và không bản nào kiểm bản nào. Nối chúng bằng một mã, và trang nhật ký «Nắng» trong một ngày mưa trở thành thứ khó xảy ra hơn là thứ dễ xảy ra nhất.

Nhật ký công trường không đáng giá vì nó dày. Nó đáng giá khi từng dòng trong đó nói đúng điều đã xảy ra.

Tỉ lệ dòng lịch chép từ phụ lục giá, số biên bản trên một việc và nhật ký ghi «Nắng» mọi ngày đo trên tệp quản lý thi công thật của một công trình, đã ẩn danh. Số ngày mưa lấy từ số đo lưu trữ thời tiết cho đúng vùng và tháng đó. Số công trình, số phút, lương và mọi giả định trong bảng tính là số minh hoạ. Hãy thay bằng số của chính bạn.

Đọc tiếp